*
* *
Trong
Classic Bonsai of Japan [1], người Nhật khẳng định họ có những tài liệu chứng minh bonsai đã có ở
Nhật vào đầu thế kỷ thứ 13. Nhưng họ cũng nói thêm rằng bonsai đã được biết đến ở Nhật vào khoảng thế thứ 6 hoặc thứ 7 (trang
140.) Cũng trong sách đã dẫn (sđd) họ đăng lại một số tranh cổ rất cô súc, diễn tả nội thất của các gia đình quý tộc, trong đó
bonsai chiếm một vị trí quan trọng, bức sớm nhất năm 1309. Những tài liệu hướng dẫn cách trồng, chăm sóc và uốn bonsai đã
có vào thế kỷ thứ 17 (trang 148-151.)
Sách này có 180 ảnh vừa màu về đen. Ảnh 156 đến 180 được liệt vào bonsai "tí hon" (miniature bonsai.) Trong 155 ảnh
còn lại, cây nhỏ tuổi nhất là 25 năm (ảnh 4,) cây lớn tuổi nhất là 1000 năm (ảnh 126.) Những cây thông trắng (5 kim) và
thông đen (2 kim) tuổi từ 80 đến 500 năm rất nhiều. Những cây thông này là những tuyệt tác có một không hai. Âu Châu,
Mỹ Châu và Úc Châu không có những tác phẩm này. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu chính phủ Nhật cấm bán những cây này
ra nước ngoài.
Trong
Penjing The Chinese Art of Miniature Gardens [2], ảnh công viên Longhua Penjing ở Thượng
Hải (trang 136,) cũng có những cây thông trắng trong rất đáng nễ, nhưng hình như cũng không bằng những cây thông trắng
của người Nhật.
Chỉ dựa vào những tác phẩm trong
[1], người Nhật quả là bậc thầy về nghệ thuật bonsai. Mặc dù chính
họ cũng khẳng định họ học được từ Tàu. Gần đây nhất, trong
Bonsai Today 108 [3], người được xem
là người thầy hàng đầu, ông
Masahiko Kimura cũng đồng ý, về kỹ thuật, hiện người Nhật đang dẫn đầu. Nhưng ông cũng nói chỉ trong một khoảng thời gian
ngắn nữa, Tây Phương sẽ bắt kịp người Nhật (bài phỏng vấn ông Kimura do các ông Morten Albek, Torben Pedersen, and
Johnny Eslykke thực hiện, trang 50-57.)
Việt Nam? Tôi không có tài liệu nào viết về cây kiểng trước thời Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm.
L'Art à Hué [4] có một số tác phẩm có liên quan đến cây kiểng:
-
Hình số VIII -- tranh sơn mài trang trí bên ngoài một cái rương. Tranh gồm có một cây thông già, hai con nai và một con chim.
Chú thích tiếng Việt của tác giả là tùng lộc (trang 134.)
-
Hình số XCVI -- tranh điêu khắc. Cây mận, (hay đào? tiếng Pháp là prunier) được uốn thành hình con lân.
-
Hình số XCVII -- tranh điêu khắc. Cây thông được uốn thành hình con rồng.
-
Hình số XCVIII -- tranh điêu khắc. Cây mẫu đơn (tiếng Pháp là pivoine) được uốn thành hình con lân.
Tôi chưa bao giờ thấy cây mẫu đơn, nên không biết "đọc" tranh có đúng không.
-
Hình số CCXII -- thông và nai. Tôi không thấy tính cách cây kiểng trong tranh này. Chú thích tiếng Việt của tác giả là tùng lộc (trang 163.)
-
Hình số CCXIII -- nhà dưới cội thông, cạnh sông hay suối, xa xa là núi có tuyết phủ. Chú thích tiếng Việt của tác giả là tùng đình (trang 163.)
-
Hình số CCXVI -- ông già câu cá trước đình. Nhà dưới cội thông.
Tôi xin chú thích, khi nói liên quan đến cây kiểng, chỉ vì có hình cây kiểng trong đó. Tôi không tìm được các tài liệu gốc do tác
giả M. Albert Sarraut dẫn. Ông cũng không chú thích các tác phẩm này được hoàn tất vào năm nào. Nhưng chỉ căn cứ vào tên
sách -- tôi chỉ ước đoán, có thể sai -- thời gian sớm nhất chỉ có thể cùng lúc với khoảng thời gian kinh thành Huế được xây
dựng, hay sau đó. Như vậy khoảng thế kỷ thứ 18.
Tôi nghĩ các tác phẩm này toàn ảnh hưởng của Tàu. Vì chúng ta đâu có cây thông, và chúng ta đâu có núi nào có tuyết phủ.
Cụ
Vương Hồng Sển [5] dẫn các sách sau. Tôi chỉ được đọc một vài đoạn trong các sách này, chưa bao
giờ đọc hết:
-
Thượng Kinh Kỷ Sự (chép việc lên kinh đô), được viết vào năm 1782, của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
[6] (trang 304, chú thích số 24)
-
Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ [6] (trang 328, chú thích số 1)
-
Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án (xin bổ túc xuất xứ sau)
-
Hoàng Lê Nhất Thống Chí (tóm tắc của tác phẩm này được soạn giả Phạm Thế Ngũ trình bày trong
Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, tập 1, trang 186.)
Cụ chép các sự việc xảy ra từ thời Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đến Án Đô Vương Trịnh Bồng. Tôi xin lược dẫn các đoạn có
liên quan đến cây kiểng. Trong phủ Tĩnh Đô Vương có hồ lớn, có những hòn núi non bộ kỳ quái, có những thứ cây lạ lùng. Ở Bắc cung
nơi chúa ngự giá sang chơi trong ngày rằm, có ao long trì (cụ
[5] không viết hoa hai từ long trì,) trên bờ
ao này có đấp những núi giả bằng đất và đá. Những người trong cung giả bạn hàng buôn bán bên bờ bên kia.
Để sửa sang phủ của mình, chúa đã ra sức ăn cướp những cây cảnh, cây quí, chậu hoa, non bộ, núi đá (hai thứ này có khác
nhau không?) tốt trong dân chúng đem về. Có lần chúa đã ăn cướp cây đa bên Bắc mang về, chúa phải dùng 500 lính để khiêng,
cùng 4 lính mang gươm và thanh la đi dọn đường. (Tôi không hiểu bên Bắc là địa phương nào.)
Lợi dụng lệnh chúa, bọn hoạn quan đã sách nhiễu, lập kế gieo tai họa cho dân chúng để tống tiền;
"...dân kinh thành phải
chặt bỏ cây cảnh và đập phá núi non bộ của nhà mình đi, để tránh tai họa", trong ngoặc kép là nguyên văn trong sách sđd
[5], trang 87.
Kinh thành đây là Thăng Long. Ngày hôm nay chúng ta không biết được số lượng non bộ và cây cảnh chúa ăn cướp của dân
kinh thành là bao nhiêu. Chúng ta lại càng không biết dân kinh thành đã tự hủy bao nhiêu non bộ và cây cảnh của mình. Nhưng
quan trọng hơn hết, theo tôi, chúng ta lại càng không biết trong những cây cảnh bị hủy bỏ này, tuổi đời của chúng là nhiêu, và
"nhan sắc" của chúng ra sao?
Nhưng dù không có những số liệu này, với kiến thức ngày hôm nay, chúng ta có thể nói đây là những di sản văn hóa Việt bị
hủy diệt. Chúng ta đã bị mất đi một phần quá khứ của chính mình. Một quá khứ mà tất cả những cố gắng trong tương lai không
bao giờ hồi phục được. Chúng ta đã mất quá khứ này vĩnh viễn.
Theo cụ, sau khi vua Quang Trung đánh bại Đoan Nam Vương Trịnh Khải, phủ chúa không được chăm sóc, đã trở nên tiêu điều
hoang phế. Khi quân Tây Sơn rút đi, Án Đô Vương Trịnh Bồng đã cố khôi phục vương nghiệp, trở về phủ chúa, ông than:
"Cách
có mấy năm mà chỗ cung điện biến thành ruộng lúa xanh om". Khi quân Tây Sơn vào kinh thành lần thứ hai, lúc này Án Đô
Vương không còn, trước khi chạy trốn, vua Lê Chiêu Thống đã đốt phủ chúa, cháy hơn một tuần chưa tắt.
Một lần nữa chuyện gì đã xảy ra cho những hòn non bộ và cây cảnh trong phủ chúa? Tôi cũng chưa được đọc một tài liệu nào
nói về những di sản này. Tĩnh Đô Vương và các quan hoạn, cùng các lần binh biến can qua này đã hủy diệt hoàn toàn những di
sản văn mà người dân kinh thành đã tích tạo bao năm trước đó?
*
* *
Đến đây tôi xin được suy luận một đôi dòng. Chắc chắn Việt Nam trong thời Lê mạt Trịnh suy, và trước đó nữa, không chỉ những
người dân ở kinh thành mới biết trồng kiểng và chơi hòn non bộ. Những chùa chiền, những người giàu có ở ngoài kinh thành, và
các hưu quan thì sao? Các cuộc bể dâu này chắc không thể nào tiêu hủy hoàn toàn các di sản này trong Đàng trong thời đó. Chuyện
gì đã xảy ra cho những cây cảnh còn lại? Tài liệu của cụ Vương Hồng Sển là tài liệu duy nhất, viết trước và sau năm 1975 ở Việt
Nam, mà tôi được đọc, có liên quan đến cây kiểng. Trong thời gian ở nước ngoài, tôi đã may mắn được mua lại, hoặc được đọc
rất nhiều sách quý xuất bản ở Miền Nam trước năm 1975; và sau này một số sách của nhà xuất bản Thuận Hóa trong những năm
1990. Tôi không nói là tôi đã đọc hết, nhưng trong các sách tôi đã được đọc, không sách nào nói về môn nghệ thuật này.
Xin được suy luận thêm. Các sách lịch sử của Việt Nam đều chép, khi Tàu sang xâm lăng Việt Nam, chúng đã tiêu hủy và ăn
cướp các tài liệu, sách vở của Việt Nam. Vậy chúng đã hủy hoại và ăn cướp gì nữa của ta? Sử sách của ta chỉ chép chung
chung, không chi tiết lắm. Nên chúng ta không biết ta đã mất gì? Phương pháp đồng hóa hữu hiệu nhất, là tiêu hủy cội nguồn
văn hóa của dân tộc đó. Đặc biệt là khi bọn Minh đô hộ Việt Nam, khoảng thời gian này chắc ta mất nhiều lắm. Tôi cố ý không
dẫn các sách sử này trong phần Tài Liệu Tham Khảo, người Việt Nam, chắc ai cũng
phải có đọc/học các sự kiện lịch sử này.
Quả thật, là người Việt Nam, nếu có một nghệ nhân ngoại quốc nào hỏi chúng ta có truyền thống bonsai không; chắc chúng ta
không thể bảo là không. Nhưng nếu họ hỏi, truyền thống của chúng ta có tự bao giờ, hoặc chúng ta có những cây cổ có xuất xứ
rõ ràng hay không, thì liệu chúng ta có thể trả lời mạch lạc rõ ràng?
Thực dân Pháp đã tàn phá hoặc ăn cướp của ta ư? Tôi cũng không có tài liệu. Tôi chỉ được đọc tài liệu nói về việc chúng nung
chảy những hiện vật vàng bạc của ta để mang về sung công của chúng
[7].
*
* *
Tôi không thể dẫn tài liệu, nhưng tôi đã đọc, hình như là tác giả người Mỹ, trong thời Cách Mạng Văn Hóa, Mao Trạch Đông (hay
những quan chức vô học ở địa phương?) đã ra lệnh hủy diệt rất nhiều kiểng cổ của họ. Nhưng họ ngưng kịp thời. Không biết sau
mùa Thu 1945, đặc biệt là trong hai thập niên 1950 và 1960, Việt Nam có bị ngôi sao quả tạ này chiếu không? Một lần nữa, chúng ta
cũng không có tài liệu nào rõ ràng. Theo trí nhớ, cũng một tác giả người Mỹ đã chép rằng, trong Thế Chiến Thứ Hai, một số người
Nhật đã trồng những cây bonsai xuống đất, đó là lý do tại sao mặc dù đất nước bị tàn phá sau Thế Chiến, nhưng họ còn giữ được
rất nhiều bonsai.
*
* *
Lan man ôn chuyện xưa, tôi chỉ muốn đưa ra nhận xét duy nhất sau đây. Người Việt không đủ bằng chứng để chứng minh thật
thuyết phục rằng, từ xưa mình chơi kiểng theo một tính cách đặc biệt Việt Nam. Thí dụ như chúng ta có thể diện chứng, cùng vẽ
rồng, nhưng rồng Việt khác rồng Tàu. Rồng Việt bốn ngó, rồng Tàu năm ngón.
*
* *
Sau 1975, chiến tranh tàn, thì sao? Chúng ta đã "phục hưng" truyền thống cây kiểng của mình ra sao? Khoảng cuối năm 2000,
tôi không còn đi tìm mua sách tiếng Việt, hoặc của các tác giả Việt Nam nữa. Tôi chỉ đến hai thư viện địa phương. Ở hai thư
viện này, tôi không thấy có sách nào về cây kiểng được viết/dịch/soạn sau năm 2000 tại Việt Nam nữa, tôi xin nhấn mạnh là ở
các thư viện này không có, tôi không nói ở Việt Nam không ai viết nữa. Tôi xin được tóm lược những sách mà tôi có. Mục đích
là thử tìm xem chúng ta đã chứng minh được đặc điểm Việt Nam chưa.
-
Ngọc Lan lược dịch , Kỹ Thuật Trồng Bonsai, Nhà Xuất Bản Đồng Nai, Việt Nam, 1995.
Tác giả Ngọc Lan lược dịch từ sách của ông David Pike. Nhưng tác giả không chú thích xuất xứ của nguyên bản. Tác giả
cũng không liệt kê các tài liệu tác giả đã tham khảo. Các hình ảnh minh họa không có hình nào của nghệ nhân Việt Nam.
Khách quan nhận xét, sách này có thể mang lại kiến thức cho người đọc. Nhưng tác giả đã không uyển chuyển viết cho
phong thổ, và môi trường Việt Nam nói chung.
Tôi không nghĩ sách này không giúp cho người đọc hiểu thêm gì về cây kiểng ở Việt Nam.
-
Trần Văn Bảo biên soạn, Kỹ Thuật Bonsai, Nhà Xuất Bản Trẻ, Việt Nam, 1999.
Sách hơn 200 trang. Biên soạn công phu hơn quyển trước (số 1.) Một số lớn hình ảnh minh họa xuất xứ từ các sách
của tác giả Nhật, Mỹ và Tàu. Ông cũng không liệt các tài liệu ông tham khảo.
Một số nhỏ các ảnh minh họa tôi nghĩ là của nghệ nhân Việt Nam; trong các ảnh này, ông không ghi tên của cây, tuổi
của cây và tên nghệ nhân. Theo tôi nghĩ, cách ảnh này được chụp rất cẩu thả: phần lớn không thấy chậu đâu cả. Thí dụ,
trang 76, có hình một cây mai vàng tuyệt đẹp, đang trổ hoa, tôi không biết chậu của cây này ra sao.
Cũng như cuốn số 1, ông đã không viết cho môi trường Việt Nam. Thí dụ, từ trang 57 đến trang 65, ông tả kỹ thuật nhân
giống như gieo hạt, tách mầm, giâm cành và cắt đoạn. Ông diễn tả khá chi tiết các yếu quan trọng như nhiệt độ, thời gian
v.v. Nhưng ông không cho biết ở Việt Nam, loại cây nào có thể sử dụng được.
Trên quan điểm của người đọc; tiếng Việt của ông viết rất dễ hiểu, nhưng ông chú thích tiếng
Anh rải rác đó đây, không theo một hệ thống nào hết. Tôi không hiểu ông tại sao ông làm vậy. Các chú thích tiếng Anh này
không giúp gì cho người đọc.
Tuy nổi bật hơn quyển số 1; quyển này cho cũng không cho biết gì về nghệ thuật cây kiểng ở Việt Nam.
-
Phạm Minh biên dịch, Bonsai Toàn Thư, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, 1997.
Ngoại trừ ngôn ngữ là tiếng Việt; sách này không có một chút Việt Nam nào. Giúp người đọc tăng kiến thức chung.
Quyển này in đẹp hơn quyển số 1 và số 2 ở trên.
-
Huỳnh Văn Thới, Kiểng Cổ Chậu Xưa, Nhà Xuất Bản Trẻ, Việt Nam, 1996.
Nhận xét đầu tiên của tôi là, tuy không nhiều, nhưng các ảnh minh họa hoàn toàn Việt Nam. Có những cây rất đẹp
như ảnh số 5, cây me. Triết lý Tàu có ảnh hưởng rõ rệt trong sách này.
Ông chép kiểng cổ Việt Nam đã có từ thời Trần. Và kiểng cổ Việt Nam còn để lại rải rác từ Bắc chí Nam. Ông không
đưa tài liệu nào cụ thể nên chúng ta không biết được độ xác thực đến đâu.
Ông cũng kết luận, kiểng Việt Nam là một tổng hợp của kiểng Tàu, kiểng Pháp và kiểng Nhật. Tôi không thấy được
điểm này. Nếu chỉ nói ảnh hưởng của kiểng Tàu thì tôi hiểu. Tôi không thấy yếu tố Pháp trong những kiểng Việt Nam
mà tôi đã được thấy. Ông có đưa ra những thí dụ, nhưng tôi nghĩ người Việt không chuộng những kiểu cắt, uốn trong
các thí dụ này lắm.
Ông viết bonsai Nhật đặt nặng vẻ đẹp vào bộ rễ (trang 92,) theo tôi thấy điều này chúng ta cần phải xem lại. Bộ rễ của
một cây bonsai quả thật là quan trọng, nhưng theo tôi được hiểu, thì không phải là trọng tâm.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Tây Ninh. Tôi học trung học ở trường Đạo Đức cũ của đạo Cao Đài. Tôi vẫn thường hay vào
Bá Huê Viên chơi. Vườn kiểng này không rộng, nhưng đa dạng. Tôi nhớ có những cây kiểng rất giống những cây trong
sách này. Đặc biệt là bộ tam thanh, ảnh 9 và 15. Cũng là mai chiếu thủy. Tôi nhớ, các nghệ nhân trong Bá Huê Viên cũng
có chỉ cho tôi xem một cây kiểng (khổng lồ, trồng trong bồn, rễ ăn xuống đất) được uốn theo thế long giáng, hình 23 trong
sách. Tuy nhiên đầu rồng của hai cây kiểng này được tạo bằng cành và lá, chớ không phải bằng rễ hay thân như trong hình
minh họa.
Trong chương bốn, "Các Thế Kiểng", từ trang 52 đến trang 97, ông tả nhiều thế kiểng hơn bất cứ sách tiếng Anh hay tiếng
Việt nào tôi đã được đọc -- tổng cộng là 39 kiểu. Và ông diễn tả rất chi tiết. Chỉ đọc tên các thế kiểng, vốn từ Tàu-Việt của
chúng ta cũng tăng lên rất nhiều. Ông không cho chúng ta biết ông lấy tài liệu ở đâu. Nhưng tôi đoán chắc là tài liệu Tàu.
Cũng giống như các sách trước. Ông không bàn nhiều chi tiết thực hành. Thí dụ như loại cây nào hợp với thế kiểng nào.
Nói chung, sách hơi nặng về lý thuyết, phần áp dụng ít.
Sách này cho chúng ta biết rất nhiều điều về kiểng Việt Nam, qua các lời bàn và giải thích của ông, và các ảnh chụp.
Chỉ tiếc ông không có nhiều hình ảnh minh họa. Tôi tin rằng, nếu được sự hỗ trợ đúng đắn, ông có thừa khả năng để viết
một cuốn sách về kiểng Việt Nam quy mô hơn -- rất nhiều.
Tôi nghĩ đây cũng là một yếu tố chính giới hạn các tác giả và soạn giả ở Việt Nam. Thiếu thốn kỹ thuật và tài chánh.
Họ chỉ có thể thực hiện các công trình này trong giới hạn cho phép.
Cây kiểng cũng là một phần văn hóa của Việt Nam. Đáng lẽ chính quyền phải giúp các nghệ nhân phát triển hết khả
năng của họ. Vì các vị là những cá nhân có thể làm thay đổi và mang sức sống mới vào môn nghệ thuật này.
-
Phan Văn Lít with Lew Buller, MOUNTAINS IN THE SEA The Vietnamese Miniature Landscape Art of Hòn Non Bộ,
Timber Press, Portland, Oregon, 2001.
Đúng như tựa sách, ông không nói nhiều về cây kiểng Việt Nam, ông dẫn rất nhiều cổ sử để chứng minh hòn non bộ,
tuy có một vài điểm giống bonsai của Nhật, và benjing của Tàu, nhưng hòn non bộ là một môn nghệ thuần túy Việt.
"Thuần túy" trong tinh thần hòn non bộ là một phương tiện mà người Việt Nam cổ đại dùng để thể hiện niềm tin vào uy
quyền của đất trời (hay thiên nhiên?)
Dựa vào cổ sử, ông đã can đảm ước đoán hòn non bộ đã có thể có từ thời Tiền Lê. Xin xem chương 2, "The
Historical and Cultural Significance of Hòn Non Bộ" (Tầm Quan Trọng về Lịch Sử và Văn Hóa của Hòn Non Bộ.)
Ông và phu nhân đã đi từ Bắc chí Nam, chụp lại những phong cảnh thiên nhiên, và những hòn non bộ ở các chùa, đền
cổ Việt Nam, để minh họa cho những lý luận trong sách. Tiến sĩ Lew Buller, trong lời nói đầu cho biết họ viết trong hai năm
mới xong tác phẩm này.
Một vài tác phẩm hòn non bộ của ông (Phan Văn Lít) được triển lãm thường xuyên trong Balboa Park Botanical Garden,
thành phố San Diego.
Đáng lẽ tôi đã không tóm lược sách này, vì sách không nói nhiều về cây kiểng. Nhưng đối với cá nhân tôi, đây là một
quyển sách quan trọng. Vì nếu có người ngoại quốc nào hỏi về "bonsai Việt Nam", tôi sẽ không ngần ngại giới thiệu với
họ sách này. Mặc dù sách không cho chúng ta thấy đặc điểm của cây kiểng Việt Nam.
Trong sách, tôi thấy phảng phất tinh thần Hàn Thuyên Đại Việt hồn xưa bàng hoàng (Đông Hồ, Xuân Phong Ngâm.)
Các thế hệ trí thức Việt Nam vẫn luôn trăn trở về tính độc lập của văn hóa Việt Nam với văn hóa Tàu.
*
* *
Sách viết về cây kiểng ở Việt Nam còn yếu. Phần đông các tác giả sử dụng rất nhiều hình và ảnh của nước ngoài. Và lỗi nặng nhất là
không trích dẫn. Tôi không hiểu làm như vậy có có vi phạm luật tác quyền hay không? Các sách về bonsai mà tôi được được đọc, không
được viết cho môi trường Việt Nam. Chúng ta cũng không thấy đâu là các kinh nghiệm cá nhân của tác giả.
Lỗi nặng nhất? Sách Việt Nam mà không thấy Việt Nam tính đâu cả. Thật buồn ghê.
Phần đông, các tác giả này không phản ảnh được tình hình thực tế ở Việt Nam. Tôi lấy một thí dụ, trên diễn đàn của Cây Cảnh Việt Nam
(
http://www.caycanhvietnam.com,) những người
tham gia diễn đàn thỉnh thoảng đưa lên những ảnh chụp các cây kiểng tuyệt đẹp của các nghệ nhân Việt Nam; của những giống cây
được trồng Việt Nam từ lâu đến giờ. Tại sao không sử dụng những cây kiểng này để minh họa cho cây kiểng Việt Nam?
Tóm lại, tôi nghĩ các tác giả Việt Nam cần phải nỗ lực phát huy tinh thần dân tộc rất nhiều trong việc viết sách về cây kiểng.
Họ phải sử dụng các tác phẩm Việt Nam.
Bỏ thói quen sử dụng đồ của người khác. Những cây kiểng Việt Nam này không thua gì các cây bonsai mà tôi được thấy tận mắt ở
Úc và các cây bonsai trong ảnh chụp từ các châu lục khác.
Đến đây, tôi cũng muốn ghi lại một chuyện được đọc. Trong
Bonsai School [9], trang 40, tác giả Craig Coussins
chép khi sang Nga, ông được gặp bà Tamara Belousova, điều hợp viên của một câu lạc bộ bonsai, kiêm thuyết ngôn viên Vườn Bách
Thảo Mạc Tư Khoa. Bà Tamara Belousova đã học ở Việt Nam, và hiểu rất rõ các khái niệm về bonsai Việt Nam (nguyên văn: Tamara
understood many of the concepts of Vietnamese bonsai.) Khi gặp tác giả ở Melbourne, tôi chưa đọc quyển sách này, nên không biết
để hỏi gì thêm.
Đọc đoạn văn trên của ông Craig Coussins, tôi chỉ có thể đoán, ở một trường hay một viện nào đó tại Việt Nam, có tài liệu hệ thống
hóa về truyền thống cây kiểng Việt Nam, nhưng các tài liệu này chưa được khai thác đúng mức?
*
* *
Tôi xin đưa ra nhận xét chủ quan của tôi về cây kiểng Việt Nam qua những gì tôi được thấy. Và có thể có nhiều người không
đồng ý.
Bonsai, trong tiếng Nhật, được viết bằng hai từ: chậu và trồng cây
[10]. Chúng ta cũng được biết
là cây trồng trong chậu này được cắt tỉa và uốn theo một hình dáng mà nghệ nhân thích; nếu không thì cây trồng trong chậu
này không phải là bonsai; mà thực sự chỉ là cây trồng trong chậu.
Cây kiểng Việt Nam cũng là cây được trồng trong chậu và cũng được uốn và cắt tỉa theo ý của nghệ nhân. Như vậy,
nếu chúng ta muốn dùng danh từ toàn cầu hóa Anh-Nhật "bonsai" để chỉ cây kiểng Việt Nam thì chắc cũng không sai.
Tuy, theo tôi nhận xét, bonsai của người Nhật gần với thiên nhiên hơn. Mặc dù họ cũng có một vài thế bonsai nhất định,
sđd
[8]. Kiểng Việt Nam, theo truyền thống, và như tác giả
Huỳnh Văn Thới [11]
đã bàn, được dùng để thể hiện một tâm sự, ý chí hay triết lý sống của tác giả; có thể vì vậy cho nên tính tự nhiên của một
tác phẩm trở thành thứ yếu. Thế kiểng "tam thanh"
[11] là một thí dụ cụ thể. Hay nói một cách khác,
kiểng truyền thống Việt Nam ảnh hưởng Tàu.
Hãy nghe tác giả
Nguyễn Văn Ba [12] tả một cành mai đẹp:
Tuy nhiên, một cành mai "đẹp" toàn diện phải hội đủ các yếu tố sau đây: có cành Văn lẫn cành Vũ (nhánh ngang,
nhánh đứng) tượng trưng cho sự phối hợp cương nhu, cành Quân lẫn cành Thần (ngắn, dài) biểu hiện cho nghi lễ,
cành Phụ lẫn cành Tử (lớn, nhỏ) của tình cha con, hoa phải lưỡng phái, nghĩa là có nhụy đực lẫn nhụy cái nói lên sự
cao quý của nghĩa phu thê.
Trước khi đọc sách này
[12], tôi vẫn cứ nghĩ một cành mai đẹp là cành mai có thật nhiều hoa. Quả
thật, đọc đoạn văn trên ta không thấy các cụ nói gì về phong dáng tự thiên nhiên của mai.
Bonsai Nhật, tùy theo thế, được trồng trong rất nhiều kiểu chậu khác nhau. Nhưng nhìn chung, chậu cạn vẫn chiếm đa số.
Kiểng Việt Nam thường được trồng trong những bồn lớn và rất sâu. Ngày xưa, khi tôi lớn lên, trong nhà vẫn còn lại ba chậu
kiểng. Một cây mai chiếu thủy, hai cây mai vàng. Cả ba cây này đều được trồng trong chậu rất sâu và rộng. Không phải
loại chậu quý. Tôi nhớ là phải ba thằng nhóc 14 tuổi mới dời đi được. Hai cây mai vàng thì đã chết rồi. Nhưng cây mai chiếu
thủy thì vẫn còn sống, và cậu tôi, con lớn nhất của ông ngoại tôi vẫn còn giữ nó, chắc nó cũng phải già lắm. Gần 20 năm rồi,
tôi chưa thấy lại cây mai chiếu thủy này.
Gần đây, nhìn những ảnh cây kiểng ở Việt Nam -- rải rác qua các báo điện tử và các câu lạc bộ (nhiều nhất là
http://www.caycanhvietnam.com) tôi bắt đầu thấy giống có
nét bonsai nhiều hơn. Cây được uốn không theo kiểu tôi thấy trong Bá Huê Viên, và được trồng trong chậu cạn theo kiểu
chậu bonsai. Đây là ảnh hưởng của bonsai Nhật mà tác giả
Huỳnh Văn Thới [11] nói đến chăng?
*
* *
Cùng là quốc gia ảnh hưởng văn hóa Tàu như Nhật Bản và Cao Ly. May mắn hơn Việt Nam, thời gian Nhật Bản và Cao Ly bị
bọn Tàu-Hán đô hộ ít hơn. Người Nhật có một giai đoạn độc lập trước Việt Nam 500 năm để phát huy văn hóa cổ truyền của
mình thật rực rỡ.
Nhắc đến nước Nhật người ta nghĩ đến bonsai, đến võ sĩ đạo (samurai,) đến không thủ đạo (karate. ) (Và cũng đừng quên Trân
Châu Cảng, lẫn hai quả bom nguyên tử được thả xuống Quảng Đảo và Trường Kỳ.)
Việt Nam vẫn tự hào với 4000 năm văn hiến. Nhưng nhắc đến Việt Nam, người ta nghĩ đến gì? Hình ảnh bé gái 11, 12 tuổi trần
truồng, bị bom xăng đốt cháy toàn lưng, đang chạy trốn máy bay B52? Đường mòn Hồ Chí Minh? Địa đạo Củ Chi?
Còn cái
đũng quần cũng đánh?
Tôi nghĩ các cây kiểng của Việt Nam và ở Việt Nam đẹp không thua gì ở các quốc gia khác. Nhưng Việt Nam chưa khai thác
được lợi điểm của mình. Một cầu thủ bóng đá chỉ được các quốc gia bên ngoài biết đến khi chính anh ta là một ngôi sao rực
rỡ của quốc gia mình, và được đồng bào của anh ta quý trọng. Tôi nghĩ cây kiểng cũng vậy. Các tác giả Việt Nam ở Việt Nam,
khi viết sách, phải chú trọng vào truyền thống và điều kiện Việt Nam. Nếu ngay người Việt Nam không biết quý trọng các tác phẩm
nghệ thuật của mình, thì làm sao giới thiệu ra ngoài được? Và làm sao hun đúc và phát huy truyền thống này ở các thế hệ sau?
Tại sao khi viết sách, các vị tác giả lại phải sử dụng đại đa số hình ảnh các tác phẩm nước ngoài? Đọc các sách xuất bản ở
Việt Nam, ta có cảm giác là truyền thống cây kiểng của Việt Nam đang ở giai đoạn phôi thai! Buồn ghê. Nhưng quả thật, không
thể chối cãi được là sách vở của Việt Nam về cây kiểng đang ở trong giai đoạn phôi thai.
Đến chừng nào các tác giả Việt Nam mới cho ra được quyển
Những Cây Kiểng Truyền Thống của Việt Nam có tầm cỡ,
và thuyết phục? Và các giả và tác phẩm Việt Nam mới hiện diện trên diễn đàn quốc tế?
Tài Liệu Tham Khảo
[1]
Nippon Bonsai Association, translated by John Bester, Classic Bonsai of Japan, Kodansha International, New York, U.S.A, 1989.
[2]
Hu Yunhua, Penjing The Chinese Art of Miniature Gardens, Timber Press, Oregon, U.S.A, 1982.
[3]
Bonsai Today 108, March/April 2007, Stone Lantern Publishing Company, P.O. Box 70 Passumpsic, VT 05861, U.S.A. 2007.
[4]
M. Albert Sarraut, L'Art à Hué, Nouvelle Edition, Association des Amis du Vieux Huê
Tôi mua được quyển này 10 trước ở nhà sách Nguyễn Huệ, thành phố Hồ Chí Minh. Không có trang nào trong sách cho biết sách được xuất bản vào năm nào, nhưng tôi đoán, phải trong thời Pháp thuộc.
Xin lưu ý, Huế được viết với hai, ba cách khác nhau. Không phải do tôi viết sai. Sách in sao, tôi giữ vậy.
[5]
Vương Hồng Sển, Khảo Đồ Sứ Cổ về Men Lam Huế, Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam, Tháng Tư, 1993.
[6]
Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Hà Nội, Việt Nam, Tháng Sáu, 1941.
[7]
Lê Văn Lân, Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng Của Hoàng Đế Việt Nam, Làng Magazine xuất bản, Hoa Kỳ (hay Canada?) Tháng Giêng, 1998.
[8]
Harry Tomlinson, The Complete Book Of Bonsai, Abbeville Press, New York, U.S.A, 1991.
[9]
Craig Coussins, Bonsai School, SILVERDALE BOOKS, Leicester, England, 2002.
[10]
Yuji Yoshimura and Giovanna M. Halford, The Art of Bonsai Creation, Care, and Enjoyment, Charles E. Tuttle Company, Tokyo,
Japan, 1957.
[11]
Huỳnh Văn Thới, Kiểng Cổ Chậu Xưa, Nhà Xuất Bản Trẻ, Việt Nam, 1996.
[12]
Huỳnh Hữu Của, Nguyễn Văn Ba, Cây Trái Quê Mình, Bình Minh xuất bản, Hoa Kỳ, 1992.
[13]
Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Quốc Học Tùng Thư xuất bản, (Sài Gòn?) Việt Nam,
trọn bộ hoàn thành ngày Quý Hạ, năm Ất Tỵ.
[14]
Phan Văn Lít with Lew Buller, MOUNTAINS IN THE SEA The Vietnamese Miniature Landscape Art of Hòn Non Bộ,
Timber Press, Portland, Oregon, 2001.