Tôi được đọc nhiều sách viết về bonsai bằng tiếng Anh. Trong các sách này, các tác giả người Nhật, và các tác phẩm của Nhật được nhắc đến rất nhiều. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Kế đến là các tác giả người Hoa Kỳ, người Anh, và các nước Châu Âu khác. Nước Úc, quốc gia tôi đang định cư, cũng có một vài tác giả được biết đến trên diễn đàn quốc tế. Cũng có nhiều tác giả và tác phẩm Tàu được nhắc đến. Rải rác tôi cũng được thấy các tác phẩm của Nam Hàn.
 
Trong gần 20 năm (108 số / 6 số 1 năm = 18 năm) hoạt động, với 108 số, Bonsai Today không có một tác giả Việt Nam nào tham gia. Trong khi đó, các nghệ nhân trong vùng Đông Nam Á có viết cho tạp chí này. Và dĩ nhiên, không có một tác phẩm Việt Nam nào được biết đến qua tạp chí này.
 
Năm 2001, mới có một tác giả Việt Nam xuất hiện trên diễn đàn thế giới, ông Phan Văn Lít [14]. Và ông định cư ở Hoa Kỳ.
 
Tôi không hiểu tại sao người Việt Nam lại vắng mặt như vậy. Trong khuôn khổ của bài viết này, tôi xin được đưa ra một vài nhận xét của tôi về truyền thống cây kiểng Việt Nam. Và tình trạng sách vở cây kiểng ở Việt Nam. Các bạn sẽ không đồng ý với các nhận xét của tôi. Và chắc chắn phần tôi ôn lại lịch sử của cây kiểng trong lịch sử Việt Nam còn rất nhiều thiếu sót -- thời gian tôi bỏ ra để để tìm kiếm tài liệu không lâu. Trong tương lai, có thể tôi sẽ nghiên cứu và bổ túc bài viết này thêm. Hoặc có người nào đó hệ thống hóa được lịch sử biên niên của cây kiểng Việt Nam thì càng tốt.
 
Trong bài viết này, tôi dùng "hình" để chỉ hình vẽ; và "ảnh" để chỉ ảnh chụp.
 
*
* *
Trong Classic Bonsai of Japan [1], người Nhật khẳng định họ có những tài liệu chứng minh bonsai đã có ở Nhật vào đầu thế kỷ thứ 13. Nhưng họ cũng nói thêm rằng bonsai đã được biết đến ở Nhật vào khoảng thế thứ 6 hoặc thứ 7 (trang 140.) Cũng trong sách đã dẫn (sđd) họ đăng lại một số tranh cổ rất cô súc, diễn tả nội thất của các gia đình quý tộc, trong đó bonsai chiếm một vị trí quan trọng, bức sớm nhất năm 1309. Những tài liệu hướng dẫn cách trồng, chăm sóc và uốn bonsai đã có vào thế kỷ thứ 17 (trang 148-151.)
 
Sách này có 180 ảnh vừa màu về đen. Ảnh 156 đến 180 được liệt vào bonsai "tí hon" (miniature bonsai.) Trong 155 ảnh còn lại, cây nhỏ tuổi nhất là 25 năm (ảnh 4,) cây lớn tuổi nhất là 1000 năm (ảnh 126.) Những cây thông trắng (5 kim) và thông đen (2 kim) tuổi từ 80 đến 500 năm rất nhiều. Những cây thông này là những tuyệt tác có một không hai. Âu Châu, Mỹ Châu và Úc Châu không có những tác phẩm này. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu chính phủ Nhật cấm bán những cây này ra nước ngoài.
 
Trong Penjing The Chinese Art of Miniature Gardens [2], ảnh công viên Longhua Penjing ở Thượng Hải (trang 136,) cũng có những cây thông trắng trong rất đáng nễ, nhưng hình như cũng không bằng những cây thông trắng của người Nhật.
 
Chỉ dựa vào những tác phẩm trong [1], người Nhật quả là bậc thầy về nghệ thuật bonsai. Mặc dù chính họ cũng khẳng định họ học được từ Tàu. Gần đây nhất, trong Bonsai Today 108 [3], người được xem là người thầy hàng đầu, ông Masahiko Kimura cũng đồng ý, về kỹ thuật, hiện người Nhật đang dẫn đầu. Nhưng ông cũng nói chỉ trong một khoảng thời gian ngắn nữa, Tây Phương sẽ bắt kịp người Nhật (bài phỏng vấn ông Kimura do các ông Morten Albek, Torben Pedersen, and Johnny Eslykke thực hiện, trang 50-57.)
 
Việt Nam? Tôi không có tài liệu nào viết về cây kiểng trước thời Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm.
 
L'Art à Hué [4] có một số tác phẩm có liên quan đến cây kiểng: Tôi xin chú thích, khi nói liên quan đến cây kiểng, chỉ vì có hình cây kiểng trong đó. Tôi không tìm được các tài liệu gốc do tác giả M. Albert Sarraut dẫn. Ông cũng không chú thích các tác phẩm này được hoàn tất vào năm nào. Nhưng chỉ căn cứ vào tên sách -- tôi chỉ ước đoán, có thể sai -- thời gian sớm nhất chỉ có thể cùng lúc với khoảng thời gian kinh thành Huế được xây dựng, hay sau đó. Như vậy khoảng thế kỷ thứ 18.
 
Tôi nghĩ các tác phẩm này toàn ảnh hưởng của Tàu. Vì chúng ta đâu có cây thông, và chúng ta đâu có núi nào có tuyết phủ.
 
Cụ Vương Hồng Sển [5] dẫn các sách sau. Tôi chỉ được đọc một vài đoạn trong các sách này, chưa bao giờ đọc hết: Cụ chép các sự việc xảy ra từ thời Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đến Án Đô Vương Trịnh Bồng. Tôi xin lược dẫn các đoạn có liên quan đến cây kiểng. Trong phủ Tĩnh Đô Vương có hồ lớn, có những hòn núi non bộ kỳ quái, có những thứ cây lạ lùng. Ở Bắc cung nơi chúa ngự giá sang chơi trong ngày rằm, có ao long trì (cụ [5] không viết hoa hai từ long trì,) trên bờ ao này có đấp những núi giả bằng đất và đá. Những người trong cung giả bạn hàng buôn bán bên bờ bên kia.
 
Để sửa sang phủ của mình, chúa đã ra sức ăn cướp những cây cảnh, cây quí, chậu hoa, non bộ, núi đá (hai thứ này có khác nhau không?) tốt trong dân chúng đem về. Có lần chúa đã ăn cướp cây đa bên Bắc mang về, chúa phải dùng 500 lính để khiêng, cùng 4 lính mang gươm và thanh la đi dọn đường. (Tôi không hiểu bên Bắc là địa phương nào.)
 
Lợi dụng lệnh chúa, bọn hoạn quan đã sách nhiễu, lập kế gieo tai họa cho dân chúng để tống tiền; "...dân kinh thành phải chặt bỏ cây cảnh và đập phá núi non bộ của nhà mình đi, để tránh tai họa", trong ngoặc kép là nguyên văn trong sách sđd [5], trang 87.
 
Kinh thành đây là Thăng Long. Ngày hôm nay chúng ta không biết được số lượng non bộ và cây cảnh chúa ăn cướp của dân kinh thành là bao nhiêu. Chúng ta lại càng không biết dân kinh thành đã tự hủy bao nhiêu non bộ và cây cảnh của mình. Nhưng quan trọng hơn hết, theo tôi, chúng ta lại càng không biết trong những cây cảnh bị hủy bỏ này, tuổi đời của chúng là nhiêu, và "nhan sắc" của chúng ra sao?
 
Nhưng dù không có những số liệu này, với kiến thức ngày hôm nay, chúng ta có thể nói đây là những di sản văn hóa Việt bị hủy diệt. Chúng ta đã bị mất đi một phần quá khứ của chính mình. Một quá khứ mà tất cả những cố gắng trong tương lai không bao giờ hồi phục được. Chúng ta đã mất quá khứ này vĩnh viễn.
 
Theo cụ, sau khi vua Quang Trung đánh bại Đoan Nam Vương Trịnh Khải, phủ chúa không được chăm sóc, đã trở nên tiêu điều hoang phế. Khi quân Tây Sơn rút đi, Án Đô Vương Trịnh Bồng đã cố khôi phục vương nghiệp, trở về phủ chúa, ông than: "Cách có mấy năm mà chỗ cung điện biến thành ruộng lúa xanh om". Khi quân Tây Sơn vào kinh thành lần thứ hai, lúc này Án Đô Vương không còn, trước khi chạy trốn, vua Lê Chiêu Thống đã đốt phủ chúa, cháy hơn một tuần chưa tắt.
 
Một lần nữa chuyện gì đã xảy ra cho những hòn non bộ và cây cảnh trong phủ chúa? Tôi cũng chưa được đọc một tài liệu nào nói về những di sản này. Tĩnh Đô Vương và các quan hoạn, cùng các lần binh biến can qua này đã hủy diệt hoàn toàn những di sản văn mà người dân kinh thành đã tích tạo bao năm trước đó?
 
 
*
* *
 
Đến đây tôi xin được suy luận một đôi dòng. Chắc chắn Việt Nam trong thời Lê mạt Trịnh suy, và trước đó nữa, không chỉ những người dân ở kinh thành mới biết trồng kiểng và chơi hòn non bộ. Những chùa chiền, những người giàu có ở ngoài kinh thành, và các hưu quan thì sao? Các cuộc bể dâu này chắc không thể nào tiêu hủy hoàn toàn các di sản này trong Đàng trong thời đó. Chuyện gì đã xảy ra cho những cây cảnh còn lại? Tài liệu của cụ Vương Hồng Sển là tài liệu duy nhất, viết trước và sau năm 1975 ở Việt Nam, mà tôi được đọc, có liên quan đến cây kiểng. Trong thời gian ở nước ngoài, tôi đã may mắn được mua lại, hoặc được đọc rất nhiều sách quý xuất bản ở Miền Nam trước năm 1975; và sau này một số sách của nhà xuất bản Thuận Hóa trong những năm 1990. Tôi không nói là tôi đã đọc hết, nhưng trong các sách tôi đã được đọc, không sách nào nói về môn nghệ thuật này.
 
Xin được suy luận thêm. Các sách lịch sử của Việt Nam đều chép, khi Tàu sang xâm lăng Việt Nam, chúng đã tiêu hủy và ăn cướp các tài liệu, sách vở của Việt Nam. Vậy chúng đã hủy hoại và ăn cướp gì nữa của ta? Sử sách của ta chỉ chép chung chung, không chi tiết lắm. Nên chúng ta không biết ta đã mất gì? Phương pháp đồng hóa hữu hiệu nhất, là tiêu hủy cội nguồn văn hóa của dân tộc đó. Đặc biệt là khi bọn Minh đô hộ Việt Nam, khoảng thời gian này chắc ta mất nhiều lắm. Tôi cố ý không dẫn các sách sử này trong phần Tài Liệu Tham Khảo, người Việt Nam, chắc ai cũng phải có đọc/học các sự kiện lịch sử này.
 
Quả thật, là người Việt Nam, nếu có một nghệ nhân ngoại quốc nào hỏi chúng ta có truyền thống bonsai không; chắc chúng ta không thể bảo là không. Nhưng nếu họ hỏi, truyền thống của chúng ta có tự bao giờ, hoặc chúng ta có những cây cổ có xuất xứ rõ ràng hay không, thì liệu chúng ta có thể trả lời mạch lạc rõ ràng?
 
Thực dân Pháp đã tàn phá hoặc ăn cướp của ta ư? Tôi cũng không có tài liệu. Tôi chỉ được đọc tài liệu nói về việc chúng nung chảy những hiện vật vàng bạc của ta để mang về sung công của chúng [7].
 
 
*
* *
 
Tôi không thể dẫn tài liệu, nhưng tôi đã đọc, hình như là tác giả người Mỹ, trong thời Cách Mạng Văn Hóa, Mao Trạch Đông (hay những quan chức vô học ở địa phương?) đã ra lệnh hủy diệt rất nhiều kiểng cổ của họ. Nhưng họ ngưng kịp thời. Không biết sau mùa Thu 1945, đặc biệt là trong hai thập niên 1950 và 1960, Việt Nam có bị ngôi sao quả tạ này chiếu không? Một lần nữa, chúng ta cũng không có tài liệu nào rõ ràng. Theo trí nhớ, cũng một tác giả người Mỹ đã chép rằng, trong Thế Chiến Thứ Hai, một số người Nhật đã trồng những cây bonsai xuống đất, đó là lý do tại sao mặc dù đất nước bị tàn phá sau Thế Chiến, nhưng họ còn giữ được rất nhiều bonsai.
 
 
*
* *
 
Lan man ôn chuyện xưa, tôi chỉ muốn đưa ra nhận xét duy nhất sau đây. Người Việt không đủ bằng chứng để chứng minh thật thuyết phục rằng, từ xưa mình chơi kiểng theo một tính cách đặc biệt Việt Nam. Thí dụ như chúng ta có thể diện chứng, cùng vẽ rồng, nhưng rồng Việt khác rồng Tàu. Rồng Việt bốn ngó, rồng Tàu năm ngón.
 
*
* *
 
Sau 1975, chiến tranh tàn, thì sao? Chúng ta đã "phục hưng" truyền thống cây kiểng của mình ra sao? Khoảng cuối năm 2000, tôi không còn đi tìm mua sách tiếng Việt, hoặc của các tác giả Việt Nam nữa. Tôi chỉ đến hai thư viện địa phương. Ở hai thư viện này, tôi không thấy có sách nào về cây kiểng được viết/dịch/soạn sau năm 2000 tại Việt Nam nữa, tôi xin nhấn mạnh là ở các thư viện này không có, tôi không nói ở Việt Nam không ai viết nữa. Tôi xin được tóm lược những sách mà tôi có. Mục đích là thử tìm xem chúng ta đã chứng minh được đặc điểm Việt Nam chưa.
 
*
* *
 
Sách viết về cây kiểng ở Việt Nam còn yếu. Phần đông các tác giả sử dụng rất nhiều hình và ảnh của nước ngoài. Và lỗi nặng nhất là không trích dẫn. Tôi không hiểu làm như vậy có có vi phạm luật tác quyền hay không? Các sách về bonsai mà tôi được được đọc, không được viết cho môi trường Việt Nam. Chúng ta cũng không thấy đâu là các kinh nghiệm cá nhân của tác giả.
 
Lỗi nặng nhất? Sách Việt Nam mà không thấy Việt Nam tính đâu cả. Thật buồn ghê.
 
Phần đông, các tác giả này không phản ảnh được tình hình thực tế ở Việt Nam. Tôi lấy một thí dụ, trên diễn đàn của Cây Cảnh Việt Nam (http://www.caycanhvietnam.com,) những người tham gia diễn đàn thỉnh thoảng đưa lên những ảnh chụp các cây kiểng tuyệt đẹp của các nghệ nhân Việt Nam; của những giống cây được trồng Việt Nam từ lâu đến giờ. Tại sao không sử dụng những cây kiểng này để minh họa cho cây kiểng Việt Nam?
 
Tóm lại, tôi nghĩ các tác giả Việt Nam cần phải nỗ lực phát huy tinh thần dân tộc rất nhiều trong việc viết sách về cây kiểng. Họ phải sử dụng các tác phẩm Việt Nam. Bỏ thói quen sử dụng đồ của người khác. Những cây kiểng Việt Nam này không thua gì các cây bonsai mà tôi được thấy tận mắt ở Úc và các cây bonsai trong ảnh chụp từ các châu lục khác.
 
Đến đây, tôi cũng muốn ghi lại một chuyện được đọc. Trong Bonsai School [9], trang 40, tác giả Craig Coussins chép khi sang Nga, ông được gặp bà Tamara Belousova, điều hợp viên của một câu lạc bộ bonsai, kiêm thuyết ngôn viên Vườn Bách Thảo Mạc Tư Khoa. Bà Tamara Belousova đã học ở Việt Nam, và hiểu rất rõ các khái niệm về bonsai Việt Nam (nguyên văn: Tamara understood many of the concepts of Vietnamese bonsai.) Khi gặp tác giả ở Melbourne, tôi chưa đọc quyển sách này, nên không biết để hỏi gì thêm.
 
Đọc đoạn văn trên của ông Craig Coussins, tôi chỉ có thể đoán, ở một trường hay một viện nào đó tại Việt Nam, có tài liệu hệ thống hóa về truyền thống cây kiểng Việt Nam, nhưng các tài liệu này chưa được khai thác đúng mức?
 
 
*
* *
 
Tôi xin đưa ra nhận xét chủ quan của tôi về cây kiểng Việt Nam qua những gì tôi được thấy. Và có thể có nhiều người không đồng ý.
 
Bonsai, trong tiếng Nhật, được viết bằng hai từ: chậu và trồng cây [10]. Chúng ta cũng được biết là cây trồng trong chậu này được cắt tỉa và uốn theo một hình dáng mà nghệ nhân thích; nếu không thì cây trồng trong chậu này không phải là bonsai; mà thực sự chỉ là cây trồng trong chậu.
 
Cây kiểng Việt Nam cũng là cây được trồng trong chậu và cũng được uốn và cắt tỉa theo ý của nghệ nhân. Như vậy, nếu chúng ta muốn dùng danh từ toàn cầu hóa Anh-Nhật "bonsai" để chỉ cây kiểng Việt Nam thì chắc cũng không sai.
 
Tuy, theo tôi nhận xét, bonsai của người Nhật gần với thiên nhiên hơn. Mặc dù họ cũng có một vài thế bonsai nhất định, sđd [8]. Kiểng Việt Nam, theo truyền thống, và như tác giả Huỳnh Văn Thới [11] đã bàn, được dùng để thể hiện một tâm sự, ý chí hay triết lý sống của tác giả; có thể vì vậy cho nên tính tự nhiên của một tác phẩm trở thành thứ yếu. Thế kiểng "tam thanh" [11] là một thí dụ cụ thể. Hay nói một cách khác, kiểng truyền thống Việt Nam ảnh hưởng Tàu.
 
Hãy nghe tác giả Nguyễn Văn Ba [12] tả một cành mai đẹp:
 
Tuy nhiên, một cành mai "đẹp" toàn diện phải hội đủ các yếu tố sau đây: có cành Văn lẫn cành Vũ (nhánh ngang, nhánh đứng) tượng trưng cho sự phối hợp cương nhu, cành Quân lẫn cành Thần (ngắn, dài) biểu hiện cho nghi lễ, cành Phụ lẫn cành Tử (lớn, nhỏ) của tình cha con, hoa phải lưỡng phái, nghĩa là có nhụy đực lẫn nhụy cái nói lên sự cao quý của nghĩa phu thê.
 
Trước khi đọc sách này [12], tôi vẫn cứ nghĩ một cành mai đẹp là cành mai có thật nhiều hoa. Quả thật, đọc đoạn văn trên ta không thấy các cụ nói gì về phong dáng tự thiên nhiên của mai.
 
Bonsai Nhật, tùy theo thế, được trồng trong rất nhiều kiểu chậu khác nhau. Nhưng nhìn chung, chậu cạn vẫn chiếm đa số. Kiểng Việt Nam thường được trồng trong những bồn lớn và rất sâu. Ngày xưa, khi tôi lớn lên, trong nhà vẫn còn lại ba chậu kiểng. Một cây mai chiếu thủy, hai cây mai vàng. Cả ba cây này đều được trồng trong chậu rất sâu và rộng. Không phải loại chậu quý. Tôi nhớ là phải ba thằng nhóc 14 tuổi mới dời đi được. Hai cây mai vàng thì đã chết rồi. Nhưng cây mai chiếu thủy thì vẫn còn sống, và cậu tôi, con lớn nhất của ông ngoại tôi vẫn còn giữ nó, chắc nó cũng phải già lắm. Gần 20 năm rồi, tôi chưa thấy lại cây mai chiếu thủy này.
 
Gần đây, nhìn những ảnh cây kiểng ở Việt Nam -- rải rác qua các báo điện tử và các câu lạc bộ (nhiều nhất là http://www.caycanhvietnam.com) tôi bắt đầu thấy giống có nét bonsai nhiều hơn. Cây được uốn không theo kiểu tôi thấy trong Bá Huê Viên, và được trồng trong chậu cạn theo kiểu chậu bonsai. Đây là ảnh hưởng của bonsai Nhật mà tác giả Huỳnh Văn Thới [11] nói đến chăng?
 
 
*
* *
 
Cùng là quốc gia ảnh hưởng văn hóa Tàu như Nhật Bản và Cao Ly. May mắn hơn Việt Nam, thời gian Nhật Bản và Cao Ly bị bọn Tàu-Hán đô hộ ít hơn. Người Nhật có một giai đoạn độc lập trước Việt Nam 500 năm để phát huy văn hóa cổ truyền của mình thật rực rỡ.
 
Nhắc đến nước Nhật người ta nghĩ đến bonsai, đến võ sĩ đạo (samurai,) đến không thủ đạo (karate. ) (Và cũng đừng quên Trân Châu Cảng, lẫn hai quả bom nguyên tử được thả xuống Quảng Đảo và Trường Kỳ.)
 
Việt Nam vẫn tự hào với 4000 năm văn hiến. Nhưng nhắc đến Việt Nam, người ta nghĩ đến gì? Hình ảnh bé gái 11, 12 tuổi trần truồng, bị bom xăng đốt cháy toàn lưng, đang chạy trốn máy bay B52? Đường mòn Hồ Chí Minh? Địa đạo Củ Chi? Còn cái đũng quần cũng đánh?
 
Tôi nghĩ các cây kiểng của Việt Nam và ở Việt Nam đẹp không thua gì ở các quốc gia khác. Nhưng Việt Nam chưa khai thác được lợi điểm của mình. Một cầu thủ bóng đá chỉ được các quốc gia bên ngoài biết đến khi chính anh ta là một ngôi sao rực rỡ của quốc gia mình, và được đồng bào của anh ta quý trọng. Tôi nghĩ cây kiểng cũng vậy. Các tác giả Việt Nam ở Việt Nam, khi viết sách, phải chú trọng vào truyền thống và điều kiện Việt Nam. Nếu ngay người Việt Nam không biết quý trọng các tác phẩm nghệ thuật của mình, thì làm sao giới thiệu ra ngoài được? Và làm sao hun đúc và phát huy truyền thống này ở các thế hệ sau?
 
Tại sao khi viết sách, các vị tác giả lại phải sử dụng đại đa số hình ảnh các tác phẩm nước ngoài? Đọc các sách xuất bản ở Việt Nam, ta có cảm giác là truyền thống cây kiểng của Việt Nam đang ở giai đoạn phôi thai! Buồn ghê. Nhưng quả thật, không thể chối cãi được là sách vở của Việt Nam về cây kiểng đang ở trong giai đoạn phôi thai.
 
Đến chừng nào các tác giả Việt Nam mới cho ra được quyển Những Cây Kiểng Truyền Thống của Việt Nam có tầm cỡ, và thuyết phục? Và các giả và tác phẩm Việt Nam mới hiện diện trên diễn đàn quốc tế?
 

Tài Liệu Tham Khảo

 
 
[1] Nippon Bonsai Association, translated by John Bester, Classic Bonsai of Japan, Kodansha International, New York, U.S.A, 1989.
 
[2] Hu Yunhua, Penjing The Chinese Art of Miniature Gardens, Timber Press, Oregon, U.S.A, 1982.
 
[3] Bonsai Today 108, March/April 2007, Stone Lantern Publishing Company, P.O. Box 70 Passumpsic, VT 05861, U.S.A. 2007.
 
[4] M. Albert Sarraut, L'Art à Hué, Nouvelle Edition, Association des Amis du Vieux Huê

Tôi mua được quyển này 10 trước ở nhà sách Nguyễn Huệ, thành phố Hồ Chí Minh. Không có trang nào trong sách cho biết sách được xuất bản vào năm nào, nhưng tôi đoán, phải trong thời Pháp thuộc.

Xin lưu ý, Huế được viết với hai, ba cách khác nhau. Không phải do tôi viết sai. Sách in sao, tôi giữ vậy.
 
[5] Vương Hồng Sển, Khảo Đồ Sứ Cổ về Men Lam Huế, Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam, Tháng Tư, 1993.
 
[6] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Hà Nội, Việt Nam, Tháng Sáu, 1941.
 
[7] Lê Văn Lân, Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng Của Hoàng Đế Việt Nam, Làng Magazine xuất bản, Hoa Kỳ (hay Canada?) Tháng Giêng, 1998.
 
[8] Harry Tomlinson, The Complete Book Of Bonsai, Abbeville Press, New York, U.S.A, 1991.
 
[9] Craig Coussins, Bonsai School, SILVERDALE BOOKS, Leicester, England, 2002.
 
[10] Yuji Yoshimura and Giovanna M. Halford, The Art of Bonsai Creation, Care, and Enjoyment, Charles E. Tuttle Company, Tokyo, Japan, 1957.
 
[11] Huỳnh Văn Thới, Kiểng Cổ Chậu Xưa, Nhà Xuất Bản Trẻ, Việt Nam, 1996.
 
[12] Huỳnh Hữu Của, Nguyễn Văn Ba, Cây Trái Quê Mình, Bình Minh xuất bản, Hoa Kỳ, 1992.
 
[13] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Quốc Học Tùng Thư xuất bản, (Sài Gòn?) Việt Nam, trọn bộ hoàn thành ngày Quý Hạ, năm Ất Tỵ.
 
[14] Phan Văn Lít with Lew Buller, MOUNTAINS IN THE SEA The Vietnamese Miniature Landscape Art of Hòn Non Bộ, Timber Press, Portland, Oregon, 2001.